CHỦ NGHĨA THỰC DÂN

Chủ nghĩa thực dân thi hành các chính sách phản động, hà khắc và duy trì
hình thức bóc lột dã man của của mình lên một vùng đất, hay một quốc gia khác.
Họ cho mình là "mẫu quốc" và tuyên bố chủ quyền đối với những vùng đất hay
quốc gia khác mà họ sử dụng vũ lực chiếm đóng được và bổ nhiệm toàn quyền để

cai trị (tương tự như Thái thú của chế độ phong kiến). Họ đã làm cho cấu trúc xã
hội, chính trị và nền kinh tế của quốc gia mà mà họ xâm lược thay đổi toàn diện.
Nói đến chủ nghĩa thực dân là nhắc đến một giai đoạn lịch sử đen tối của
nhân loại. Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 20 khi mà những người châu Âu tiến hành
khai thác các thuộc địa của mình tại các lục địa khác. Những lý do để thực hiện
các chính sách thực dân phản động trong thời kỳ này bao gồm:
1. Thu lợi về kinh tế;
2. Mở rộng uy quyền của "mẫu quốc";
3. Trốn thoát sự ngược đãi tại "mẫu quốc";
4. Cải đạo cho người dân bản xứ sang tín ngưỡng của những kẻ thực dân.
Một số người ủng hộ chủ nghĩa thực dân cho rằng họ đang giúp đỡ những
dân bản xứ bằng cách "khai hóa văn minh" bằng Giáo lý Cơ đốc và nền văn
minh. Tuy nhiên, bản chất về chủ nghĩa thực dân đó là sự nô dịch, chiếm đất và
sự chết chóc của những người dân bản xứ.
Kể từ cuối thế kỷ 20, hệ thống thuộc địa của Chủ nghĩa thực dân về cơ
bản đã sụp đổ, nhưng việc các cường quốc phương Tây can thiệp vào nội bộ
nước nhỏ vẫn thường xuyên xảy ra. Một thuật ngữ mới được đặt ra là "Chủ
nghĩa thực dân mới", nhằm mô tả chỉ việc các cường quốc tư bản chủ nghĩa sử
dụng các chính phủ bù nhìn, sự xâm thực văn hóa để kiểm soát một quốc gia,
thay vì kiểm soát trực tiếp như chủ nghĩa thực dân cổ điển trước đây.
- Karl Marx từng viết: “Việc tìm thấy những mỏ vàng, mỏ bạc ở châu Mỹ,
việc biến người dân bản xứ thành nô lệ, việc chôn vùi họ vào các hầm mỏ hoặc
tuyệt diệt họ đi, những buổi đầu của cuộc chinh phục và cướp bóc ở Đông Ấn,
việc biến châu Phi thành một vùng đất cấm thương mại dành riêng cho việc săn
bắt người da đen, đấy là những biện pháp tích lũy nguyên thủy có tính chất tình
ca, báo hiệu bình minh của thời đại tư bản chủ nghĩa”.
- Johansson mô tả về thảm cảnh của nô lệ ở các xứ thuộc địa như sau:
"Một bầy nô lệ trên bờ biển. Người nào cũng đeo một cái gông sắt nặng ở cổ
hoặc bị trói chung vào 1 cây sào, tay bị xiềng, chân bị xích. Xiềng tay và xích
chân đã làm cho bọn họ toạc da rách thịt, vết thương càng ngày càng lở loét, thối
rữa. Những người nô lệ đó không được ăn no, không được uống nước, bị thúc ép
di cho nhanh dưới những làn roi, nên thường bị say nắng mà thiệt mạng. Nếu họ
nằm xuống, nghỉ, hoặc bước đi uể oải ngã vật xuống là bị bắn chết ngay hoặc bị
dao nhọn đâm chết hoặc bị cắt cuống họng một cách vô nhân đạo. Những em bé
mẹ không cõng nổi hoặc đi theo không kịp đoàn người thì bị gậy đập đến vỡ óc.
Nhiều nô lệ đã tự sát một cách đau khổ”.

- Nguyễn Ái Quốc viết: “Từ lúc Colombo tìm ra châu Mỹ thì các nước
châu Âu tràn qua đây làm ăn. Người da trắng muốn bắt người da đỏ làm nô lệ,
nhưng họ không chịu làm, thì chúng giết mòn, giết mòn người da đỏ đi rồi bắt
người da đen từ châu Phi qua làm cho chúng”. Ngay từ cuối những năm 1920,
Nguyễn Ái Quốc đã mô tả nông dân Việt Nam như sau: “Ruộng bị Tây chiếm
hết, không đủ mà cày. Gạo bị nó chở hết, không đủ mà ăn. Làm nhiều, được ít,
thuế nặng... Đến nỗi chết đói, hoặc bán vợ đợ con, hoặc đem thân làm nô lệ như
những người nó chở đi Tân thế giới...
CUỘC CHIẾN BI HÙNG TRÊN PHÁO ĐÀI ĐỒNG ĐĂNG 1979
"Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh..."
Người dân Bắc Bộ từ bao đời vẫn truyền nhau bài ca dao về một thị trấn
nhỏ nằm sát vùng biên giới Lạng Sơn. Đồng Đăng - cái tên gắn với huyền tích
về nàng Tô Thị.
Sau tháng 2/1979, thị trấn có thêm một huyền tích nữa. Đó là câu chuyện về
những liệt sĩ tử thủ trên pháo đài Đồng Đăng khi quân Trung Quốc tràn sang xâm lược.
Tròn 40 năm trước, Lạng Sơn là một trong những mặt trận ác liệt nhất của
cuộc chiến biên giới phía Bắc. "Sáng ăn cơm Đồng Đăng, chiều ăn cơm Hà
Nội", quân Trung Quốc đã ngông nghênh tuyên bố như vậy khi tiến quân vào thị
trấn cửa ngõ của Lạng Sơn.
Thế nhưng 5 ngày sau, địch vẫn loay hoay không chiếm nổi pháo đài chỉ
có 1 đại đội trấn giữ.
Pháo đài Đồng Đăng chiếm giữ vị trí trọng yếu nhất của cả thị trấn. Đây
là cứ điểm vô cùng kiên cố nhờ hệ thống hầm xây chìm xuống lòng núi, trên
đỉnh là những lô cốt kiên cố với lỗ châu mai chĩa về 4 hướng. Khi có biến, pháo
đài có thể thành nơi trú ẩn của hàng trăm người.
Mãi đến sau năm 2000, người dân Đồng Đăng mới có điều kiện khai quật
pháo đài. Hơn 30 bộ hài cốt được tìm thấy ở tầng hầm đầu tiên. Đến nay vẫn chưa
ai tiếp cận được tầng hầm thứ 3, nơi ước tính còn hàng trăm xác người nằm lại.
5 NGÀY ĐÊM TỬ THỦ
Trong ngày 17/2/1979, thị trấn Đồng Đăng nhanh chóng thất thủ trước
hàng đàn xe tăng và bộ binh Trung Quốc. Chỉ còn một pháo đài nằm trên ngọn
đồi nhỏ phía nam thị trấn địch vẫn chưa chiếm được.
Chiếm giữ vị trí trọng yếu nhất của cả thị trấn, chốt giữ pháo đài Đồng
Đăng lúc đó là đại đội 42 thuộc trung đoàn 4, sư đoàn 3 (Đoàn Sao Vàng) và
một đơn vị Công an vũ trang (nay là bộ đội biên phòng).
Thượng úy Hà Đức Thiện (khi đó cũng là chiến sĩ trung đoàn 4, Sư đoàn
337) cho biết trung đoàn của ông là đơn vị chủ lực phòng ngự thị trấn Đồng
Đăng, chứng kiến cảnh quân Trung Quốc vây hãm pháo đài Đồng Đăng khi bên
trong còn hàng trăm dân thường đang trú ẩn.

"Pháo đài tối om và ngột ngạt bởi mùi tử khí, máu me, tiếng trẻ con khóc
không thành tiếng vì khát nước, khát sữa..."
"Quân Trung Quốc mở hàng chục đợt tiến công lên pháo đài nhưng đều bị
đẩy lùi. Bộ đội ta trong các lô cốt dùng AK và B41 bắn ra, xác quân địch ngổn
ngang trên đường dẫn lên pháo đài", ông Thiện kể.
Sau nhiều giờ tấn công, các chốt cố thủ của Đại đội 42 từ con đường quanh
đồi dẫn đến pháo đài lần lượt bị mất. Một số người Hoa theo giúp quân Trung
Quốc đã cắt hết dây thông tin liên lạc, dẫn quân địch theo các đường hẻm lên chốt,
những vị trí đóng quân của bộ đội Việt Nam, chiếm được một phần pháo đài.
Lương thực và đạn dược trong pháo đài bắt đầu cạn dần. Nguy cấp nhất là
không có quân chi viện. Trung Quốc chiếm được phần nóc pháo đài, bộ đội Việt
Nam phải rút xuống các tầng hầm cố thủ. Khi quân địch cho người đến cửa hầm
gọi hàng, đáp lại chỉ là những loạt AK từ bên trong bắn ra.
Những ngày tiếp theo, số lượng người thương vong ngày càng tăng. Pháo
đài tối om và ngột ngạt bởi mùi tử khí, máu me, tiếng trẻ con khóc không thành
tiếng vì khát nước, khát sữa...
Mất 5 ngày đêm vẫn chưa chiếm được pháo đài khiến quân địch điên
cuồng. Ngày 22/2/1979, chúng đặt bộc phá giật sập cửa hầm, dùng lựu đạn cay
thả xuống các lỗ thông hơi, sau đó đổ xăng xuống hầm rồi phóng hỏa.
"VẾT THƯƠNG THÁNG 2 VẪN RỈ MÁU"
Ông Cường khi đó đã về đến gần Đồng Đăng nhưng không thể vào thị
trấn. Gặp một đơn vị bộ đội, ông xin được tham gia chiến đấu nhưng vì khác
đơn vị nên không được nhận.
Hành trình tìm cha mẹ và các em của ông Cường bị gián đoạn tới tận ngày
5/3/1979 khi Trung Quốc rút quân. Vào được thị trấn Đồng Đăng, ông theo chỉ
dẫn của những nhân chứng sống sót mà chạy một mạch lên pháo đài.
Xác người được chôn dọc theo con dốc. Có mấy xác chôn sơ sài còn thò
cả tay chân ra. Trên đỉnh pháo đài, những lô cốt đổ nghiêng, vỡ toác vì bộc phá
nhưng tuyệt nhiên không có một dấu vết nào của quân Trung Quốc.
Đối phương đã dọn sạch chiến trường từ cái vỏ đạn như thể muốn xóa hết
bằng chứng về tội ác của mình. "Tôi từng đánh Mỹ, theo đoàn quân giải phóng
Sài Gòn, nhưng nỗi căm hờn chưa bao giờ lớn như khi chứng kiến quân Trung
Quốc giày xéo quê hương" - Ông Đào Đức Cường nói.
Lối xuống các tầng hầm bị đất đá lấp kín, không có cách nào tiếp cận
được bên trong. Cả 7 anh chị em ruột của ông Cường đã mãi mãi nằm lại trong
pháo đài, cùng hàng trăm dân thường và bộ đội. Người em út của ông khi đó
mới 8 tuổi.
Khi từ giã quê nhà đi đánh Mỹ, ông Cường cứ ngỡ mảnh đất Lạng Sơn
mãi mãi là hậu phương, nơi đón những chuyến hàng viện trợ của người "đồng
chí" Trung Quốc. Thế rồi chỉ trong vài năm, bạn hóa thành thù, hậu phương hóa
thành tiền tuyến. Điều khiến người lính như ông day dứt là không được cầm
súng bảo vệ gia đình và quê hương mình.
Từ ngày 17/2/1979 đến khi kết thúc chiến sự, 19.000 quân Trung Quốc ở
Lạng Sơn đã bị loại khỏi vòng chiến đấu. Lực lượng vũ trang Việt Nam và

người dân đã tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn và 4 tiểu đoàn địch,
phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp, 52 xe quân sự.
Để lập nên chiến công này, sư đoàn 3 hy sinh và bị thương gần 1.500
người; Sư đoàn 337 hy sinh 650 người; Sư đoàn 338 hy sinh 260 người... 20 cá
nhân và 14 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
Nhân dân. Quân đoàn 14 được mang danh hiệu “Binh đoàn Chi Lăng”, Sư đoàn
337 được tặng danh hiệu “Đoàn Khánh Khê”.
TỈNH TÁO TRƯỚC ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA KẺ THÙ
Gần đây, trên các trang mạng xã hội, các trang website (một số Blog điển
hình như: Tiếng Dân, Điếu Cày...) có máy chủ đặt ở nước ngoài, xuất hiện nhiều
nguồn tin xuyên tạc, kích động có chủ đích chống phá các cán bộ Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta. Nguy hiểm hơn, chúng tập trung vào những vấn đề nhạy
cảm để xuyên tạc, kích động, gây áp lực, hòng thay đổi chủ trương, đường lối
của Đảng, phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã
đạt được. Có thể thấy, hệ thống báo nói, báo in, báo hình... do các thế lực thù
địch tổ chức đã có mặt ở hầu hết các quốc gia có người Việt Nam sinh sống.
Phần lớn các đài phát thanh, truyền hình, báo chí bằng tiếng Việt ở các nước đều
bị các thế lực thù địch, các đảng phái, các tổ chức phản động lưu vong chi phối,
thao túng hoặc lợi dụng để chống phá cách mạng Việt Nam.
Nội dung tuyên truyền chống phá của các lực lượng này là tập trung chĩa
mũi nhọn chống phá, xuyên tạc, phủ nhận kết quả đấu tranh phòng chống tham
nhũng của Đảng ta, bôi nhọ nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhất là Tổng bí
thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, các nội dung xuyên tạc nói xấu quan hệ
Việt Nam – Trung Quốc – Mỹ, nói xấu lãnh đạo cao cấp của Đảng, Quân đội và
Công an. Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch đã kích động, lôi kéo các phần tử
bất mãn, cơ hội chính trị tăng cường xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ nhằm hạ bệ
thần tượng Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta; phủ định
những thành tựu của sự nghiệp đổi mới, cường điệu những yếu kém, khuyết
điểm của nền kinh tế - xã hội và quy chụp đó là do yếu kém trong lãnh đạo, quản
lý của Đảng, Nhà nước; kích động nhân dân đòi đa nguyên, đa đảng, gây xáo
trộn, rối loạn trong xã hội ta, từ đó lập mưu, tính kế kêu gọi cán bộ, đảng viên,
nhân dân từ bỏ hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Ngăn chặn, phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù
địch là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, làm tốt nhiệm vụ đó sẽ góp phần quan trọng
vào sự nghiệp bảo vệ hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, bảo vệ con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là nhiệm vụ nặng nề, cần phải có sự
tham gia của nhiều ban, ngành, cơ quan, đơn vị, tập trung cơ sở vật chất, trí tuệ...
kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, phản bác những tư tưởng sai trái của các thế lực
thù địch, phản động có hiệu quả. Đặc biệt mỗi người dân cần tỉnh táo, nhận diện
rõ bản chất vấn đề để cùng nhau vạch trần những âm mưu đen tối đó

Đại úy Chu Thanh Tùng

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này